Trên bản vẽ kỹ thuật, kích thước luôn ghi theo độ lớn thật của vật, tính bằng milimét và không ghi đơn vị, bất kể bản vẽ được thu nhỏ hay phóng to. Tỉ lệ (như 1:2, 1:100, 2:1) chỉ cho biết hình vẽ to nhỏ thế nào so với vật thật. Mỗi kích thước gồm ba phần: đường gióng, đường kích thước có mũi tên ở hai đầu, và con số kích thước đặt trên đường kích thước.
Ghi kích thước đúng là việc tưởng nhỏ mà quyết định một chi tiết có gia công được hay không. Bài này giải thích quy ước tỉ lệ, cách ghi kích thước thẳng, đường kính, bán kính, góc, và những lỗi người mới hay mắc.
Tỉ lệ bản vẽ
Tỉ lệ là tỉ số giữa kích thước đo trên hình vẽ và kích thước tương ứng của vật thật. Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7286:2003 (tương đương ISO 5455) quy định các tỉ lệ ưu tiên:
| Loại tỉ lệ | Các giá trị ưu tiên | Dùng cho |
|---|---|---|
| Thu nhỏ | 1:2, 1:5, 1:10, 1:20, 1:50, 1:100, 1:200, 1:500, 1:1000… | Chi tiết máy lớn, công trình, bản đồ quy hoạch |
| Nguyên hình | 1:1 | Chi tiết cỡ bàn tay |
| Phóng to | 2:1, 5:1, 10:1, 20:1, 50:1 | Chi tiết nhỏ: bánh răng đồng hồ, linh kiện điện tử |
Các tỉ lệ đi theo dãy 1, 2, 5, 10 để dễ quy đổi trong đầu. Kiến trúc nhà ở thường dùng 1:100 cho mặt bằng tổng, 1:50 cho mặt bằng chi tiết, 1:20 hoặc 1:10 cho chi tiết cầu thang, cửa. Quy hoạch đô thị dùng 1:500, 1:2000.
Đọc tỉ lệ cho nhanh
- Ở tỉ lệ 1:100, 1 cm trên giấy = 1 m ngoài đời. Đây là tỉ lệ dễ nhớ nhất.
- Ở tỉ lệ 1:50, 1 cm trên giấy = 50 cm, tức 2 cm = 1 m.
- Ở tỉ lệ 2:1, 2 cm trên giấy = 1 cm thật.
Lưu ý quan trọng: đừng đo bản vẽ in ra rồi nhân tỉ lệ để lấy kích thước gia công. Giấy co giãn, máy in phóng thu, bản chụp lệch. Luôn dùng con số ghi trên bản vẽ. Nếu thiếu kích thước, hỏi lại người vẽ.
Ba thành phần của một kích thước
- Đường gióng: nét liền mảnh kéo ra từ chỗ cần ghi kích thước, vuông góc với đường kích thước, vượt quá đường kích thước một đoạn ngắn (khoảng 2 mm).
- Đường kích thước: nét liền mảnh song song với đoạn cần đo, hai đầu có mũi tên chạm đường gióng. Khi chỗ quá hẹp, mũi tên có thể vẽ ở ngoài, hoặc thay bằng dấu chấm, dấu gạch xiên (dấu gạch xiên hay dùng trong bản vẽ kiến trúc).
- Chữ số kích thước: đặt phía trên, ở giữa đường kích thước, đọc được từ dưới lên hoặc từ phải sang. Với kích thước theo phương thẳng đứng, chữ số viết dọc, đầu chữ quay sang trái.
Ký hiệu đặc biệt
| Ký hiệu | Ý nghĩa | Ví dụ |
|---|---|---|
| Ø | Đường kính | Ø20: lỗ hoặc trục đường kính 20 mm |
| R | Bán kính cung tròn | R5: góc bo bán kính 5 mm |
| □ (hình vuông nhỏ) | Tiết diện vuông | □12: thanh vuông cạnh 12 mm |
| Số kèm dấu ° | Góc | 45°: vát góc 45 độ |
| SØ, SR | Đường kính, bán kính mặt cầu | SR10: đầu bi bán kính 10 mm |
| M + số | Ren hệ mét | M8: ren đường kính danh nghĩa 8 mm |
| Số × 45° | Vát mép | 1 × 45°: vát mép 1 mm, góc 45 độ |
| Dung sai như ±0,1 | Mức sai lệch cho phép | 20 ± 0,1: được phép từ 19,9 đến 20,1 mm |
Nguyên tắc ghi kích thước tốt
Đủ, không thừa
Mỗi kích thước chỉ ghi một lần trên toàn bộ bản vẽ, ở hình chiếu thể hiện rõ nhất. Ghi trùng dễ dẫn tới mâu thuẫn khi sửa bản vẽ: sửa chỗ này quên chỗ kia, người thợ không biết tin số nào.
Không khép kín chuỗi
Một chi tiết dài 100 mm gồm ba đoạn 30, 40, 30. Nếu ghi cả ba đoạn lẫn tổng 100, chuỗi bị "khép kín": sai số của ba đoạn cộng lại có thể vượt dung sai tổng, và người thợ không biết ưu tiên con số nào. Cách đúng là bỏ một đoạn không quan trọng (để nó tự "nhận" sai số), hoặc ghi đoạn đó trong ngoặc như kích thước tham khảo.
Chọn chuẩn kích thước
Ghi các kích thước xuất phát từ cùng một mặt chuẩn (thường là mặt sẽ được gia công đầu tiên hay mặt lắp ghép) giúp sai số không cộng dồn. Đây là lý do bản vẽ chi tiết máy hay có nhiều kích thước cùng bắt đầu từ một cạnh.
Đặt kích thước ở chỗ dễ đọc
- Ưu tiên ghi ngoài hình vẽ, không cắt qua đường bao.
- Kích thước nhỏ đặt gần hình, kích thước lớn đặt xa hơn để đường gióng không cắt nhau.
- Không ghi kích thước vào nét đứt (cạnh khuất) nếu có thể ghi ở hình cắt hoặc hình chiếu khác thấy rõ.
Kích thước trên bản vẽ nhà
Bản vẽ kiến trúc có vài thói quen riêng:
- Kích thước dài ghi bằng milimét (3600), nhưng cao độ ghi bằng mét với ba chữ số thập phân (+3.600) kèm ký hiệu tam giác.
- Thường ghi thành nhiều lớp: chi tiết, trục, tổng.
- Kích thước tính theo trục tường hoặc mép tường thô, chưa trát. Khi đặt đồ nội thất vừa khít, cần trừ đi lớp trát và ốp lát (mỗi bên có thể 1,5 – 3 cm).
Góc nhìn hôm nay: ghi kích thước một món đồ
- Chọn một vật có lỗ và góc bo: chiếc móc treo tường, giá đỡ điện thoại, miếng gỗ kê.
- Vẽ hình chiếu đứng và hình chiếu bằng tỉ lệ 1:1 nếu vật nhỏ, hoặc 1:2.
- Đo bằng thước kẹp (rẻ, dễ mua) hoặc thước thép. Ghi kích thước theo đúng quy ước: Ø cho lỗ, R cho góc bo, mỗi kích thước một lần.
- Đưa bản vẽ cho một người khác, nhờ họ tả lại vật mà không nhìn vật thật. Chỗ nào họ hỏi lại là chỗ bản vẽ thiếu.
Muốn đọc kỹ hơn, có thể tìm các tiêu chuẩn TCVN về bản vẽ kỹ thuật (ký hiệu đường nét, ghi kích thước, tỉ lệ) và giáo trình Vẽ kỹ thuật cơ khí của các trường đại học kỹ thuật trong nước.
Câu hỏi thường gặp
Kích thước trên bản vẽ kỹ thuật ghi theo đơn vị gì?
Kích thước dài trên bản vẽ kỹ thuật ghi bằng milimét và không ghi đơn vị. Con số luôn là kích thước thật của vật, dù bản vẽ được vẽ theo tỉ lệ nào.
Tỉ lệ 1:100 nghĩa là gì?
Nghĩa là 1 đơn vị trên bản vẽ ứng với 100 đơn vị ngoài thực tế, tức 1 cm trên giấy bằng 1 m ngoài đời. Tỉ lệ này hay dùng cho mặt bằng nhà ở và công trình.
Ký hiệu Ø và R trên bản vẽ là gì?
Ø là ký hiệu đường kính, ví dụ Ø20 là lỗ hoặc trục đường kính 20 mm. R là bán kính cung tròn, ví dụ R5 là góc bo bán kính 5 mm.
Có nên đo bản vẽ in rồi nhân tỉ lệ để lấy kích thước không?
Không nên. Giấy co giãn, máy in và máy photo có thể phóng thu sai lệch. Luôn dùng con số kích thước ghi trên bản vẽ, thiếu thì hỏi lại người vẽ.
Vì sao không ghi kích thước thành chuỗi khép kín?
Vì khi ghi cả các đoạn lẫn tổng, sai số của các đoạn cộng lại có thể mâu thuẫn với dung sai của tổng, người thợ không biết ưu tiên con số nào. Nên bỏ một đoạn ít quan trọng hoặc ghi nó làm kích thước tham khảo.