Đình làng Việt Nam là một hệ khung gỗ chịu lực: các hàng cột gỗ lớn kê trên đá tảng, nối với nhau bằng xà và các bộ vì (khung ngang), tất cả ghép bằng mộng và chốt gỗ, hầu như không dùng đinh. Mái lớn và dốc, bốn góc cong vút lên thành đầu đao, được đỡ hoàn toàn bởi bộ khung này, còn tường bao chỉ để che chắn. Hiểu được bộ vì là hiểu được cách người thợ xưa hình dung và dựng nên một không gian lớn chỉ từ những thân gỗ thẳng.
Bài này giải thích cấu tạo cơ bản của khung đình theo cách dễ hình dung, các kiểu vì hay gặp, vài ngôi đình tiêu biểu, và cách quan sát khi đến thăm.
Bộ khung đình: từ mặt bằng đến mặt cắt
Mặt bằng: gian và chái
Nhìn từ trên xuống, toà đình chính thường là một hình chữ nhật chia thành các gian bằng những hàng cột chạy ngang. Đình nhỏ có ba gian, đình lớn có năm hoặc bảy gian. Hai đầu hồi có thêm chái, phần mái nhỏ hơn quay ra hai bên. Cách gọi "ba gian hai chái", "năm gian hai chái" mô tả đúng mặt bằng này.
Theo chiều sâu, mỗi hàng ngang thường có sáu cột: hai cột cái to nhất ở giữa, hai cột quân ở ngoài, và hai cột hiên ngoài cùng đỡ mái hiên. Cột cái của những ngôi đình lớn có thể có đường kính khoảng sáu, bảy chục phân hoặc hơn, làm từ những thân gỗ quý như lim.
Mặt cắt: một bộ vì
Nếu cắt ngang toà đình qua một hàng cột, ta thấy một bộ vì: các cột đứng, các thanh ngang và xiên nối chúng, cùng tạo thành khung đỡ mái. Các bộ vì đặt song song, nối với nhau bằng xà dọc và hoành (các thanh gỗ chạy dọc mái để đỡ rui và ngói).
| Bộ phận | Vị trí | Vai trò |
|---|---|---|
| Đá tảng | Dưới chân cột | Kê cột, chống ẩm mục; cột đặt lên chứ không chôn xuống đất |
| Cột cái, cột quân, cột hiên | Các hàng cột từ trong ra ngoài | Đỡ toàn bộ tải trọng mái |
| Quá giang, xà | Thanh ngang nối đầu cột | Giằng các cột với nhau, đỡ phần trên |
| Kẻ, bẩy | Thanh xiên đỡ phần mái vươn ra ngoài | Giúp mái vươn rộng che mưa nắng cho hiên |
| Rường, con nhị, đấu | Các khối gỗ chồng lên nhau trên quá giang | Truyền lực từ hoành xuống quá giang theo từng nấc |
| Hoành, rui, mè | Lớp thanh nhỏ trên mái | Đỡ lớp ngói |
Các kiểu vì hay gặp
Kiến trúc gỗ truyền thống Việt Nam có nhiều kiểu vì; tên gọi có thể khác nhau tuỳ vùng và tuỳ tài liệu. Một số kiểu phổ biến:
- Vì kèo: dùng hai thanh kèo xiên gặp nhau ở nóc, như vì kèo tam giác ở nhiều nơi khác. Gặp nhiều ở nhà dân, công trình nhỏ.
- Vì chồng rường: các thanh gỗ ngắn (rường) xếp chồng lên nhau theo bậc, thu dần lên đỉnh, giữa các rường kê những khối gỗ nhỏ. Lực từ mái truyền từng nấc một xuống. Kiểu này hay gặp ở đình và chùa lớn, có nhiều chỗ để chạm khắc.
- Vì giá chiêng: trên quá giang dựng hai trụ ngắn đỡ một thanh ngang, trông giống cái giá treo chiêng. Thường dùng ở phần giữa bộ vì.
- Vì kẻ chuyền: dùng các thanh kẻ xiên nối tiếp nhau đỡ mái, gặp nhiều ở phần hiên và các công trình nhỏ.
Điểm khác biệt quan trọng so với vì kèo tam giác kiểu phương Tây: nhiều bộ vì truyền thống Việt Nam không dựa chủ yếu vào tam giác cứng, mà dựa vào sự chồng xếp, mộng ghép chặt và trọng lượng lớn của mái đè xuống, cùng với hệ cột dày. Nó là một lời giải khác cho cùng bài toán đỡ mái.
Mộng gỗ: lắp ghép không đinh
Các cấu kiện được nối bằng mộng: đầu thanh này được đẽo thành ngàm để lồng vào lỗ khoét ở thanh kia, rồi đóng chốt gỗ. Ưu điểm:
- Khung có độ dẻo nhất định, chịu được gió bão và rung động mà không gãy.
- Có thể tháo dỡ, thay thế từng cấu kiện khi bị mục, và cả di chuyển cả toà nhà đi nơi khác.
- Gỗ co ngót theo mùa thì mộng vẫn giữ.
Dựng một ngôi đình đòi hỏi người thợ cả phải hình dung toàn bộ khung trong đầu từ trước: đẽo hàng trăm cấu kiện riêng lẻ trên mặt đất, mỗi mộng đúng vị trí, rồi mới lắp lên một lượt. Đây là một kỳ công về tư duy không gian, được truyền qua nhiều thế hệ thợ mộc, như các phường thợ nổi tiếng ở vùng Bắc Bộ.
Mái đình và đầu đao
Mái đình thường rất lớn so với thân, có khi chiếm tới gần hai phần ba chiều cao toàn bộ công trình khi nhìn từ xa. Bốn góc mái cong vút lên thành đầu đao, tạo dáng mềm mại đặc trưng. Đường cong này đến từ cấu tạo của góc mái (các thanh góc được đặt và uốn để nâng dần lên) chứ không chỉ để trang trí. Mái lợp ngói, nhiều nơi là ngói mũi hài, xếp chồng như vảy cá.
Vài ngôi đình tiêu biểu
Niên đại của nhiều ngôi đình cổ dựa vào văn bia, dòng chữ ghi trên xà và nghiên cứu phong cách; các con số dưới đây là niên đại thường được nêu:
- Đình Tây Đằng (vùng Ba Vì, Hà Nội): thường được xếp vào thế kỷ 16, nổi tiếng với chạm khắc gỗ thời Mạc.
- Đình Thổ Hà (làng gốm Thổ Hà bên sông Cầu, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh): thường được ghi xây năm 1686.
- Đình Chu Quyến (vùng Ba Vì, Hà Nội): thường được ghi xây cuối thế kỷ 17.
- Đình Đình Bảng (làng Đình Bảng, tỉnh Bắc Ninh): thường được ghi xây trong khoảng 1700 – 1736, một trong những ngôi đình lớn và đẹp nhất còn lại.
Nhiều ngôi đình đã được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt hoặc di tích quốc gia. Muốn tìm hiểu kỹ hơn, có thể tìm các công trình nghiên cứu về kiến trúc đình làng của các nhà nghiên cứu như Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Trần Lâm Biền.
Góc nhìn hôm nay: quan sát một ngôi đình
- Đếm gian: đứng trước đình, đếm số khoảng giữa các hàng cột ở mặt tiền. Tìm hai chái ở hai đầu.
- Tìm bộ vì: vào bên trong, ngước lên một hàng cột ngang. Phân biệt cột cái, cột quân, cột hiên; tìm quá giang, các thanh chồng lên nhau, các kẻ xiên đỡ hiên.
- Nhìn chân cột: cột đặt trên đá tảng. Một số cột có thể hơi nghiêng vào trong (thợ xưa hay làm cột hơi chụm vào để khung vững hơn).
- Vẽ mặt cắt: phác lại bộ vì bạn thấy, ghi tên từng bộ phận. Đây là bài luyện hình dung khung ba chiều rất tốt.
- Làm mô hình: dùng que tre, que kem dựng một bộ vì đơn giản rồi ghép ba bộ thành một gian, đặt mái bằng bìa.
Câu hỏi thường gặp
Vì kèo trong đình làng là gì?
Là bộ khung ngang bằng gỗ gồm các cột, quá giang, rường, kẻ, đỡ mái đình. Các bộ vì đặt song song, nối bằng xà và hoành, tạo thành hệ khung chịu lực của toàn bộ công trình.
Đình làng có dùng đinh không?
Hầu như không. Các cấu kiện được ghép bằng mộng và chốt gỗ. Cách này giúp khung có độ dẻo, chịu được gió bão, và có thể tháo dỡ, thay thế từng cấu kiện khi cần.
Ba gian hai chái nghĩa là gì?
Là cách mô tả mặt bằng nhà: phần chính chia thành ba gian bằng các hàng cột ngang, hai đầu hồi có thêm hai chái là phần mái nhỏ hơn. Đình lớn có thể có năm hoặc bảy gian.
Vì sao cột đình kê trên đá tảng?
Kê cột lên đá tảng chứ không chôn xuống đất giúp chân cột tránh ẩm, ít mục, và khung có thể dịch chuyển nhẹ khi đất lún hay có rung động mà không gãy.
Đình làng nào cổ và nổi tiếng nhất?
Một số ngôi đình tiêu biểu thường được nhắc là đình Tây Đằng ở vùng Ba Vì, Hà Nội, thường xếp vào thế kỷ 16; đình Thổ Hà và đình Đình Bảng ở Bắc Ninh; đình Chu Quyến ở Hà Nội. Niên đại cụ thể dựa trên văn bia và nghiên cứu phong cách.